Thực vật thủy sinh nổi, chìm và lơ lửng trong nước

Mục lục

Thực vật thủy sinh là gì?

Thực vật thủy sinh là những thực vật cần môi trường nước để hoàn thành toàn bộ hoặc phần lớn vòng đời của chúng. Có ba loại chính:

Nhóm Emergent macrophytes: nổi lên trên mặt nước ở các khu vực nông của hồ, ao và mương. Chúng có thân tương đối cứng và không dựa vào nước để hỗ trợ vật lý, neo đậu. Cattails và bulrushes là một trong những loại phổ biến nhất trong nhóm này.

Nhóm Floating macrophytes: sống tự do lấy chất dinh dưỡng trực tiếp từ nước. Thực vật có bộ rễ thiếu độ cứng của thân và phụ thuộc vào nước để hỗ trợ. Bèo tấm và hoa súng vàng là những loại rễ phổ biến. Bèo tấm, một loài thực vật nhỏ thường bị khó phân biệt với tảo. Một số loài thực vật, chẳng hạn như cây sậy (bur-reeds), cây nước (water plantains) và cây hình mũi mác (arrow-heads) có chung đặc điểm của cả thực vật thủy sinh sống nổi trên mặt nước và thực vật trên cạn. Những loài thực vật này thường vươn ra khỏi mặt nước giống như thực vật nổi nhưng có lá nổi tương tự như thực vật thủy sinh nổi.

Nhóm Submerged aquatic plants: Thực vật thủy sinh chìm có thân và lá mềm dẻo, bám rễ trong lớp trầm tích và bị nước bao phủ hoàn toàn – mặc dù một số loài có hoa vươn lên trên bề mặt. Các loài thực vật phổ biến bao gồm cây mao lương, cây chân nước và cây bìm bịp.

Tầm quan trọng của thực vật thủy sinh

Thực vật thủy sinh là một phần trong tự nhiên và quan trọng của hệ sinh thái thủy sinh. Chúng cung cấp môi trường sống tuyệt vời cho cá, côn trùng dưới nước và động vật hoang dã trên cạn, là thành phần quan trọng trong chế độ ăn của chuột xạ hương và nai sừng tấm, đồng thời là nguồn thức ăn và vật liệu làm tổ cho chim nước.

Thực vật thủy sinh giúp ngăn ngừa độ đục – nước bị vẩn đục, nhiều bùn – bằng cách ổn định cặn lắng trong hồ. Chúng cũng bảo vệ bờ biển khỏi bị xói mòn quá mức bằng cách hấp thụ lực tác động của sóng.

Những loài thực vật này sử dụng hết một lượng lớn chất dinh dưỡng, làm giảm lượng tảo có sẵn cho sự phát triển và chúng hấp thụ các chất độc hại tiềm tàng – như thủy ngân và chì – cải thiện chất lượng nước

Các vấn đề do tăng nhanh thực vật thủy sinh gây ra

Sự phát triển quá mức của thực vật thủy sinh trong các thủy vực gần nơi sinh hoạt hoặc hồ bơi, hồ chứa nước uống có thể tạo ra một số vấn đề lớn:

  • Gây ra sự ô nhiễm và khó chịu khi bơi – thực vật thủy sinh phát triển quá mức trong vùng nước nông không khuyến khích bơi lội và cản trở các hoạt động dọc theo bờ biển và bãi biển.
  • Khó khăn khi chèo thuyền – cây cối làm tắc nghẽn các chân vịt của thuyền máy và cản trở các tấm trung tâm của thuyền buồm.
  • Nước uống ô nhiễm và có thể bị ngộ độc – sự phân hủy thực vật thủy sinh có thể dẫn đến mùi hôi, mùi vị và sự đổi màu của nước uống, do đó cần phải xử lý nước tiên tiến hơn.
  • Ít oxy hòa tan trong nước đối với cá – kết quả của sự phân hủy quá nhiều thực vật thủy sinh. Sục khí nước nhân tạo đã được sử dụng ở Silver Beach Lake, Oak Lake, Gull Lake và những nơi khác, để giảm bớt vấn đề này.
  • Thực vật thủy sinh phát triển dày đặc trong các con suối nhỏ và cống rãnh – có thể cản trở dòng chảy của nước và góp phần gây ra lũ lụt.
  • Mật độ thực vật thủy sinh cao có thể là một dấu hiệu cho thấy các vấn đề về chất lượng nước. Nếu hồ hoặc sông có quá nhiều thực vật thủy sinh, cho thấy có quá nhiều nitơ và phốt pho đi vào nước.

Tảo

Tảo là thực vật nguyên thủy không có lá, thân hoặc bộ rễ thật. Hầu hết các loại tảo đều có kích thước siêu nhỏ, mặc dù một số loại có màu xám, kết tụ lại với nhau để có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Các kiểu mẫu khác của tảo có thể đủ lớn để dễ dàng nhìn thấy. Sinh sản ở tảo là bằng bào tử, bằng cách phân chia tế bào hoặc bằng cách phân mảnh. 

Tảo sợi là nhóm tảo nước ngọt, được đặc trưng bởi các sợi dài hoặc sợi của các tế bào hẹp gắn vào nhau, hết đầu này đến cuối khác.

Những sợi này đôi khi phân nhánh, tạo thành một búi gắn vào đá (chúng không có cấu trúc nào sánh được với rễ).

Vào đầu mùa xuân, chúng phát triển ở đáy ao trồi lên mặt nước khi thời tiết nắng nóng, tạo thành váng bọt. Việc xác định các dạng tảo sợi khác nhau cần được kiểm tra bằng kính hiển vi. Các chi phổ biến của tảo sợi bao gồm Cladophra và Spirogyra.

Những sinh vật cực nhỏ này có thể là đơn bào hoặc nhiều tế bào, và thường tạo thành chuỗi hoặc cụm đơn giản do bản chất chung của chúng.

Chúng có màu xanh lục, xanh lục hoặc nâu và trôi tự do trong cột nước. Sự phát triển của một số dạng tảo này có thể trở nên lớn đến mức nước có thể có dạng sệt như súp hạt đậu.

“Tảo nở hoa” tập trung ở bề mặt nước trong thời gian lặng gió và tập trung vào bờ nhờ gió. Khi những “tảo nở hoa” này chết đi và phân hủy, dẫn đến sự suy giảm oxy của nước có thể gây ra hiện tượng nghỉ hè của các quần thể cá.

Một số loài tảo phù du tiết ra chất độc khi chúng phân hủy, đôi khi khiến nước trở nên độc đối với gia súc và động vật hoang dã. Các loài khác có thể truyền vị và mùi vào nước, khiến nước này không được ưa chuộng để tiêu thụ.

Các loại tảo phù du có thể hình thành “tảo nở hoa” trong ao và hồ bao gồm Aphanizomenon, Microcystis và Anabaena.

Tảo lớn có thể phát triển đủ lớn để có thể dễ dàng nhìn thấy từng cây riêng lẻ mà không cần sự hỗ trợ của kính hiển vi.

Chara sẽ được tìm thấy trong nước cứng hoặc hồ kiềm và trong hơi nước di chuyển chậm có nhiều canxi. Có thể gặp thảm Chara dày bao phủ đáy ở vùng nước nông hoặc rất sâu. Chara cung cấp môi trường sống cho nhiều loại động vật thủy sinh làm thức ăn cho cá và đôi khi bị nhầm với thực vật vì nó có cấu trúc giống thân và lá.

Thực vật thủy sinh nổi trên mặt nước

Thực vật thủy sinh chìm

Thực vật sống dưới nước có thân và lá mềm dẻo, bám rễ trong lớp trầm tích và được bao phủ hoàn toàn bởi nước – mặc dù một số loài có hoa vươn ra trên bề mặt. Các loài thực vật phổ biến bao gồm cây mao lương, cây chân nước và cây bìm bịp.

Thực vật thủy sinh lá nổi

Thực vật thủy sinh nổi có thể bị đứt rễ hoặc trôi tự do. Thực vật trôi nổi tự do lấy chất dinh dưỡng trực tiếp từ nước. Thực vật nổi rễ thiếu độ cứng của thân và phụ thuộc vào nước để hỗ trợ.

Thực vật thủy sinh đặc biệt

Thực vật nổi lên trên mặt nước ở các khu vực nông của hồ, ao và mương. Chúng có thân tương đối cứng và không dựa vào nước để hỗ trợ. Cattails và bulrushes là một trong những loại phổ biến nhất trong tỉnh.

Nguồn: Manitoba’s Water Protection Handbook (https://www.gov.mb.ca/waterstewardship/reports/water_protection_handbook.pdf) và An Identification Guide to Alberta Aquatic Plants (http://esrd.alberta.ca/lands-forests/landindustrial/programs-and-services/ pesticide-management/pesticideuse/documents/AlbertaAquaticPlants-Guide-1989.pdf).

Trần Văn Đến

Đến viết blog tự do và yêu thích nông nghiệp. Hiện tại mình đang làm việc và sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.